CHĂM SÓC THƯỜNG QUY TRONG THỜI KỲ HẬU SẢN

GIỚI THIỆU:

           Cung cấp sự hỗ trợ và trấn an tâm lý trong thời kỳ hậu sản giúp cho cha mẹ cảm giác tự tin và cũng có thể giúp nuôi dưỡng mối quan hệ cha mẹ – con cái lành mạnh. Một nghiên cứu về kỳ vọng của phụ nữ trong giai đoạn sau khi sinh cho thấy rằng họ muốn đạt được thiên chức làm mẹ tích cực (lòng tự trọng, năng lực và quyền tự chủ của người mẹ), thích ứng thành công với những thay đổi trong các mối quan hệ và gia đình, đồng thời có được sức khỏe và hạnh phúc cho con họ và chính họ

 

CHO TRẺ GẦN MẸ NGAY SAU SINH:

           Việc cho trẻ gần mẹ 24/24 sau sinh là một trong những sáng kiến cho xây dựng “Bệnh viện thân thiện với Trẻ em” do Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) và Quỹ Nhi Đồng Liên Hợp Quốc (UNICEF) phát động. Giữ nôi của trẻ sơ sinh bên cạnh giường của người mẹ thay vì trong nhà trẻ được cho là có thể cải thiện việc nuôi con bằng sữa mẹ tốt hơn.

 

Ảnh minh họa từ FB Bác Sĩ Thanh Loan

 

KIỂM TRA THƯỜNG QUY CHO MẸ:

¤           Ngoài những theo dõi về dấu hiệu sinh tồn thì cẩn quan tâm đến những vấn đề sau:

           +            Các yếu tố quan trọng để xác định băng huyết sau sinh là kiểm tra về trương lực cơ tử cung, kiểm tra tầng sinh môn và đánh giá mất máu. Những đánh giá này nên được thực hiện mỗi giờ trong 2 giờ đầu tiên sau sinh và sau đó tiếp tục sau mỗi 4 giờ trong 24 giờ đầu sau sinh. Đáy tử cung sau sinh là trở nên chắc và co bóp tốt, thường thấp hơn rốn mẹ. Việc xoa đáy tử cung là một biện pháp can thiệp hữu ích và nhanh chóng thấy tử cung không co hồi tốt.

 

           +            Có thể kiểm tra tình trạng ứ nước tiểu sau sinh bằng cách sờ trên xương mu để cảm nhận thấy bàng quang căng to.

 

           +            Việc kiểm tra tầng sinh môn để đánh giá tổn thương, phù nề,tiết dịch tại tầng sinh môn.

 

Băng huyết sau sinh - "Thủ phạm" gây tử vong hàng đầu ở sản phụ

Ảnh minh họa – nguồn internet

 

XÉT NGHIỆM SAU SINH:

           +           Xét nghiệm hemoglobin nên được thực hiện ngay sau sinh phụ thuộc vào từng bệnh nhân cụ thể, đặc biệt trong các trường hợp mẹ có bệnh lý thiếu máu trước đó hoặc băng huyết sau sinh và ở bệnh nhân có triệu chứng lâm sàng thiếu máu; tuy nhiên, có thể bỏ qua xét nghiệm này ở những bệnh nhân không bị thiếu máu trước đó, sinh thường không biến chứng, máu mất ước tính <500 mL khi sinh (không bao gồm những ca sinh mổ) và không có triệu chứng thiếu máu. Trong một nghiên cứu, 11% bệnh nhân mất máu sau sinh đo được <500 mL có lượng hemoglobin giảm sau sinh ≥2 g/dL sau sinh thường. Điều này có thể do nhiều yếu tố, bao gồm lượng máu mất được đo không chính xác, chảy máu sau khi bệnh nhân rời phòng sinh và sự khác biệt về việc đánh giá hemoglobin ở các phòng thí nghiệm.

 

           +           Ngoài ra, việc đánh giá số lượng bạch cầu không dự đoán được tình trạng nhiễm trùng sắp xảy ra vì tình trạng tăng bạch cầu có thể cao tới 15k/ul xảy ra thường xuyên ở bệnh nhân sau sinh. Việc xét nghiệm bạch cầu sau sinh nên dành riêng cho những bệnh nhân có nghi ngờ nhiễm trùng trên lâm sàng.

Làm sao lấy lại kết quả xét nghiệm máu, siêu âm, nội soi và MRI?

Ảnh minh họa – nguồn internet

 

CHĂM SÓC TẦNG SINH MÔN:

           Có rất ít thông tin có bằng chứng liên quan đến việc chăm sóc tầng sinh môn sau khi sinh con. Việc dùng bồn tắm ngồi để chăm sóc tầng sinh môn được khuyến cáo. Các biện pháp khác bao gồm điều trị tại chỗ (ví dụ, chườm lạnh hoặc ấm), thuốc tê tại chỗ và thuốc giảm đau đường uống, nên ăn một chế độ ăn giàu chất xơ và uống nhiều nước, có thể dùng thuốc làm mềm phân và thuốc nhuận tràng khi cần thiết, có thể hữu ích cho đến khi tầng sinh môn lành gần như hoàn toàn. 

 

Mẹ phải làm gì khi vết khâu tầng sinh môn bị lồi

Ảnh minh họa – nguồn internet

 

DỰ PHÒNG HUYẾT KHỐI TĨNH MẠCH:

           Biến chứng huyết khối tắc mạch là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong trực tiếp cho bà mẹ trên toàn thế giới, đặc biệt là ở các nước có thu nhập cao. Huyết khối tĩnh mạch (VTE, venous thromboembolism) thường gặp ở phụ nữ có thai hơn phụ nữ không mang thai, sau sinh thường gặp hơn so với trước sinh, và sau sinh mổ thường gặp hơn so với sinh thường. Nguy cơ cao nhất trong vài tuần đầu sau sinh và sau đó giảm dần trong 12 tuần tiếp theo sau sinh. Một số yếu tố làm tăng nguy cơ VTE bao gồm bệnh lý tăng đông do di truyền hoặc mắc phải, một số bệnh kèm theo (như bệnh hồng cầu hình liềm), béo phì, hút thuốc lá, sinh mổ và băng huyết sau sinh. Việc dự phòng được khuyến cáo cho những phụ nữ có nguy cơ cao bị huyết khối và có sự khác biệt về khuyến cáo giữa các tổ chức.

 

TIÊM VACCINE SAU SINH:

           Các chỉ định và quy trình tiêm vaccine cho phụ nữ sau sinh tương tự như các chỉ định và quy trình tiêm chủng cho dân số chung. Có thể dùng cả vắc xin bất hoạt và vắc xin sống (trừ vắc xin đậu mùa) cho các bà mẹ đang cho con bú. Đối với tất cả các loại vaccine mà không được tiêm trong thời kỳ mang thai thì có thể tiêm cho phụ nữ sau sinh (ví dụ như vaccine MMR, vaccine uốn ván,…). Đặc biệt viêm tiêm ngừa cho các thành viên trong gia đình ở cùng trẻ cũng vô cùng quan trọng để tạo được môi trường an toàn cho trẻ, đặc biệt là vaccine ho gà và cúm.

 

TIÊM ANTI-D:

           Nếu mẹ có nhóm máu Rh(-) và sinh con có nhóm máu Rh(+) thì nên tiêm anti-D càng sớm càng tốt trong khoảng 72 giờ đầu sau sinh. Và nên xét nghiệm thường quy anti-D cho tất cà mẹ có nhóm màu Rh(-) cho đánh giá trong việc truyền máu mẹ con tại thời điểm sinh để bảo đảm rằng mẹ đã nhận đủ liều anti-D.

 

GIẢM ĐAU SAU SINH:

¤           Cơn đau tử cung sau sinh

           + Đau tử cung sau sinh xảy ra khoảng 50% bệnh nhân trong vòng 48 giờ sau sinh thường hoặc sinh mổ do tử cung tăng co bóp. Thường đau từng cơn và đau hơn khi cho con bú do oxytocin được giải phóng khi trẻ bú. Tình trạng này phổ biến hơn ở phụ nữ sinh con nhiều lần, tử cung căng qua mức trước khi sinh (ví dụ như đa thai, đa ối) và phụ nữ có tiền sử đau bụng kinh. Tình trạng này thường tự hết vào cuối tuần đầu tiên sau sinh.

 

           + Các thuốc giảm đau (ví dụ, acetaminophen [paracetamol], thuốc đặt ibuprofen và diclofenac) có thường sẽ có tác dụng. Các loại thuốc NSAIDs dường như có hiệu quả tương tự như acetaminophen (paracetamol) và hai loại thuốc này có thể được sử dụng kết hợp nếu dùng một thuốc không có tác dụng đủ. Giảm đau bằng các dòng thuốc phiện (opioids) thì không cần thiết và nên tránh.

Gây tê tủy sống khi sinh mổ, lợi hại thế nào? - Sunny Care

Ảnh minh họa – nguồn internet

 

¤           Đau sau sinh mổ: Chiến lược áp dụng giảm đau đa phương thức nên được áp dụng cho phụ nữ sau sinh mổ để thúc đầy khả năng phục hồi và cho phép bà mẹ chăm sóc trẻ tốt hơn cũng như giảm thiểu nhu cầu dùng giảm đau dòng opioids cho các bà mẹ. 

 

¤           Giảm đau an toàn cho phụ nữ cho con bú: Hầu hết các thuốc giảm đau thì an toàn cho con bú, tuy nhiên cũng cần lưu ý các vấn đề sau:

 

           + Acetaminophen (paracetamol):  Acetaminophen có thể vào sữa mẹ nhưng thuốc có thể được dùng theo Tổ chức ABM.

 

           + NSAID: Thuốc đặt Ibuprofen và diclofenac, có thời gian bán hủy ngắn (<6 giờ) được ABM coi là tương thích với việc cho con bú. Nên tránh dùng Naproxen vì có thời gian bán hủy dài (> 6 giờ), do đó có khả năng tích lũy trong huyết tương của trẻ sơ sinh nhiều hơn. LƯU Ý:  Tất cả các thuốc NSAIDs không được dùng cho trẻ có bệnh tim liên quan đến bệnh tim bẩm sinh còn ống động mạch.

 

Dùng thuốc giảm đau sau sinh mổ có làm thay đổi chất lượng sữa mẹ?

Ảnh minh họa – nguồn internet

 

           + Giảm đau dòng opioids: Giảm đau cho bà mẹ sau sinh là một yếu tố quan trọng để cải thiện kết quả cho con bú; tuy nhiên, giảm đau dòng opioid sau khi sinh có thể ảnh hưởng đến sự tỉnh táo và khả năng bú của trẻ. Khi muốn dùng opioids để giảm đau sau sinh, bác sĩ lâm sàng nên xem xét rủi ro và lợi ích của thuốc với gia đình, bao gồm cả các dấu hiệu nhiễm độc ở trẻ sơ sinh (ví dụ, giảm trương lực cơ, bú không tốt, ngủ li bì). Việc sử dụng tất cả các opioids nên được giới hạn ở liều hiệu quả thấp nhất và được kê đơn trong thời gian ngắn nhất cần thiết để kiểm soát cơn đau cấp. Khi dùng giảm đau bằng dòng opioids nào nên được chuyển sang một chất giảm đau thay thế non-opioids ngay khi mức độ đau cho phép. 

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO:

  • Pamela Berens, MD, Overview of the postpartum period: Normal physiology and routine maternal care, Uptodate (2021).

 

 

xem thêm

Giải đáp thắc mắc: Nuôi con mùa Covid-19(Mở trong cửa số mới)

BUỒN NÔN VÀ NÔN KHI MANG THAI(Mở trong cửa số mới)

CHĂM SÓC VÚ SAU SINH(Mở trong cửa số mới)

Trả lời